-
-
-
Tổng tiền thanh toán:
-
Bảng thanh mẫu và vận mẫu tiếng Trung đầy đủ kèm 4 thanh điệu
Thứ Th 3,
30/06/2026
Đăng bởi Ngoại Ngữ Gia Sư
Tiếng Trung có 21 thanh mẫu và 39 vận mẫu, cộng thêm 4 thanh điệu và một thanh nhẹ. Thanh mẫu (声母 shēngmǔ) là phụ âm mở đầu âm tiết, vận mẫu (韵母 yùnmǔ) là toàn bộ phần vần đứng sau nó. Mỗi âm tiết tiếng Trung được ráp theo đúng một công thức: thanh mẫu cộng vận mẫu cộng thanh điệu. Ví dụ 妈 (mā): mẹ, gồm thanh mẫu m, vận mẫu a và thanh 1.
Nếu tài liệu bạn đang cầm ghi 21 thanh mẫu và 36 vận mẫu, bộ số đó cũng không sai. Bảng vận mẫu in trong 《汉语拼音方案》 (Hànyǔ Pīnyīn Fāng'àn: Phương án Pinyin Hán ngữ), văn bản được Kỳ họp thứ năm Quốc hội khoá I nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa phê chuẩn ngày 11/02/1958 và hiện đăng trên cổng thông tin Bộ Giáo dục Trung Quốc, chỉ có đúng 35 ô chữ, xếp trên 13 dòng. Bốn vận mẫu còn lại nằm trong phần ghi chú ngay bên dưới bảng. Một cuốn sách cộng thêm mấy vận mẫu ghi chú đó thì ra con số ấy: 35, 36, 37, 38 hay 39. Không có tài liệu nào mâu thuẫn với tài liệu nào, chỉ có cách đếm rộng hẹp khác nhau.
Bài viết này là bản cập nhật tháng 9/2026 của Ngoại Ngữ Gia Sư, gồm: bảng thanh mẫu 21 âm và bảng vận mẫu 39 âm tra được từng dòng, mô tả cách đọc theo cảm nhận người Việt, lời giải thích dứt điểm cho từng con số đang lưu hành, bốn thanh điệu kèm trị số cao độ, các quy tắc biến điệu, quy tắc đặt dấu thanh theo tiêu chuẩn quốc gia Trung Quốc, một bảng tra nhanh gộp chung để in, và chín lỗi phát âm người Việt mắc nhiều nhất.
Tiếng Trung có bao nhiêu thanh mẫu và vận mẫu?
Câu trả lời ngắn gọn để bạn ghi lại ngay:
- 21 thanh mẫu: b, p, m, f, d, t, n, l, g, k, h, j, q, x, zh, ch, sh, r, z, c, s. Con số này lấy thẳng từ bảng thanh mẫu của 《汉语拼音方案》 (Hànyǔ Pīnyīn Fāng'àn: Phương án Pinyin Hán ngữ), bảng in đúng 21 ô. Vẫn có tài liệu ghi 23 thanh mẫu vì cộng thêm y và w, chúng tôi giải thích ngay bên dưới.
- 39 vận mẫu theo cách đếm đầy đủ của ngữ âm học Hán ngữ hiện đại: 10 vận mẫu đơn, 13 vận mẫu kép, 16 vận mẫu mũi.
- 35 vận mẫu nếu chỉ đếm số ô in trong bảng vận mẫu của Phương án Pinyin năm 1958.
- 36 vận mẫu là cách đếm phổ biến nhất trong sách tiếng Việt: 35 ô trong bảng cộng thêm vận mẫu er.
- 4 thanh điệu (thanh 1, thanh 2, thanh 3, thanh 4) cộng một thanh nhẹ. Thanh nhẹ không được tính là thanh thứ năm mà là cách đọc lướt của một trong bốn thanh kia.
Vì sao đúng 21 thanh mẫu chứ không phải 22? Lý do nằm ở chỗ tiếng Phổ thông có 22 âm vị phụ âm, nhưng âm ng không bao giờ đứng đầu âm tiết. Nó chỉ làm đuôi vần, như trong 忙 (máng): bận. Loại ng ra khỏi 22 phụ âm thì còn đúng 21 âm có thể làm thanh mẫu. Đây là cách giải thích chuẩn trong giáo trình 现代汉语 (Xiàndài Hànyǔ: Hán ngữ hiện đại), và nó cho bạn một cách nhớ tốt hơn là học vẹt con số.
Còn vì sao có chỗ ghi 23 thanh mẫu? Đó là cách đếm của sách tập đọc tiểu học Trung Quốc, cộng thêm hai chữ cái y và w vào cho trẻ dễ đánh vần. Xét về ngữ âm thì y và w không phải phụ âm đầu, chúng chỉ là quy ước chính tả để viết những âm tiết vốn không có thanh mẫu. Chúng tôi giữ nguyên con số 21 và giải thích kỹ điểm này ở mục quy tắc viết pinyin bên dưới.
Một lưu ý cho người mới: bốn con số 21, 39, 4 và 1 nói trên là số lượng thành phần, không phải số lượng âm tiết. Ghép hết các thành phần lại với nhau, tiếng Phổ thông không sinh ra hàng vạn âm tiết mà chỉ sinh ra hơn 400 âm tiết cơ sở khi chưa tính thanh điệu. Đây là tin tốt cho người học, và chúng tôi sẽ nói kỹ ở mục gần cuối bài.
Bảng tra nhanh thanh mẫu vận mẫu và thanh điệu (bản in được, không cần PDF)
Mục này gom toàn bộ hệ thống vào một bảng liền mạch để bạn tra ngay trong lúc làm bài mà không phải cuộn lên cuộn xuống. Các mục còn lại của bài giải thích kỹ từng dòng trong bảng.
Nhiều người tìm bản PDF của bảng 21 thanh mẫu và 36 vận mẫu. Ngoại Ngữ Gia Sư không phát hành file PDF riêng cho bảng này, nhưng bạn tự xuất được trong chưa tới một phút, và bản tự xuất luôn là bản mới nhất. Muốn có đúng một tờ dán cạnh bàn học thì làm thế này: bôi đen riêng bảng ngay bên dưới, nhấn Ctrl và P trên Windows hoặc Command và P trên máy Mac, trong hộp thoại in chọn mục in phần đã chọn (Selection only) nếu trình duyệt của bạn có, rồi chọn máy in để ra bản giấy hoặc chọn "Lưu thành PDF" (Save as PDF) để ra file. Không bôi đen trước thì lệnh in sẽ lấy trọn cả bài và ra rất nhiều trang.
| Nhóm | Số lượng | Danh sách đầy đủ |
|---|---|---|
| Thanh mẫu, hai môi | 3 | b, p, m |
| Thanh mẫu, môi răng | 1 | f |
| Thanh mẫu, đầu lưỡi giữa | 4 | d, t, n, l |
| Thanh mẫu, gốc lưỡi | 3 | g, k, h |
| Thanh mẫu, mặt lưỡi | 3 | j, q, x |
| Thanh mẫu, đầu lưỡi sau | 4 | zh, ch, sh, r |
| Thanh mẫu, đầu lưỡi trước | 3 | z, c, s |
| Tổng thanh mẫu | 21 | b p m f d t n l g k h j q x zh ch sh r z c s |
| Vận mẫu đơn | 10 | a, o, e, i, u, ü, ê, -i (trước), -i (sau), er |
| Vận mẫu kép | 13 | ai, ei, ao, ou, ia, ie, ua, uo, üe, iao, iou (iu), uai, uei (ui) |
| Vận mẫu mũi, đuôi n | 8 | an, en, ian, in, uan, uen (un), üan, ün |
| Vận mẫu mũi, đuôi ng | 8 | ang, eng, iang, ing, uang, ueng, ong, iong |
| Tổng vận mẫu | 39 | 10 đơn cộng 13 kép cộng 16 mũi |
| Thanh điệu | 4 cộng 1 | Thanh 1 (55), thanh 2 (35), thanh 3 (214), thanh 4 (51), thanh nhẹ không dấu |
| Cặp bật hơi | 6 | b và p, d và t, g và k, j và q, zh và ch, z và c |
| Cặp dễ nhầm | 6 | zh và z, ch và c, sh và s, en và eng, in và ing, an và ang |
| Viết tắt cần nhớ | 3 | iou thành iu, uei thành ui, uen thành un |
| Ký hiệu chính tả | 3 | y, w và dấu nháy ngăn âm tiết |
Thẻ ghi nhớ rút gọn cho ba mươi giây
Nếu chỉ kịp thuộc một khối duy nhất trước buổi học, hãy thuộc khối này:
- 21 thanh mẫu, 39 vận mẫu (hoặc 36 nếu sách bạn dùng), 4 thanh điệu, 1 thanh nhẹ.
- Vận mẫu chia ba: 10 đơn, 13 kép, 16 mũi.
- Sáu cặp bật hơi phải tách bạch, vì đó là ranh giới nghĩa.
- Thanh 3 gặp thanh 3 thì đọc thành thanh 2.
- 一 (yī) và 不 (bù) đứng trước thanh 4 thì đọc thành thanh 2.
- iu và ui đánh dấu ở chữ cái cuối.
- ü bỏ hai chấm sau j, q, x và khi viết thành yu; giữ hai chấm sau n và l.
- y và w không phải thanh mẫu.
Thanh mẫu là gì? Vận mẫu là gì? Thanh điệu là gì?
Ba khái niệm này là bộ khung mà mọi giáo trình tiếng Trung dùng để mổ xẻ một âm tiết. Nắm chắc ba định nghĩa, bạn sẽ đọc được mọi bảng pinyin mà không cần ai giảng lại.
Thanh mẫu (声母 shēngmǔ)
Thanh mẫu là phụ âm đứng ở đầu âm tiết. Nó tương ứng với phụ âm đầu trong tiếng Việt, tức phần b trong "bàn", phần tr trong "trời". Trong 买 (mǎi): mua, 卖 (mài): bán, 明 (míng): sáng, cả ba âm tiết đều mở đầu bằng m, vậy m là thanh mẫu.
Không phải âm tiết nào cũng có thanh mẫu. 二 (èr): hai và 矮 (ǎi): thấp là những âm tiết bắt đầu thẳng bằng nguyên âm. Ngữ âm học gọi đây là âm tiết zero thanh mẫu (零声母 líng shēngmǔ). Khi viết ra pinyin, những âm tiết loại này có thể phải mượn y hoặc w để mở đầu cho khỏi dính vào âm tiết trước, ví dụ 一 (yī): số một, 五 (wǔ): số năm. Mượn chữ cái để viết không có nghĩa là mượn luôn một thanh mẫu.
Vận mẫu (韵母 yùnmǔ)
Vận mẫu là toàn bộ phần còn lại của âm tiết sau khi đã bỏ thanh mẫu ra. Đây chính là phần vần. Trong 好 (hǎo): tốt, h là thanh mẫu và ao là vận mẫu. Trong 中 (zhōng): giữa, zh là thanh mẫu và ong là vận mẫu. Trong 电线 (diànxiàn): dây điện, vận mẫu của cả hai âm tiết đều là ian.
Vận mẫu là thành phần không thể thiếu của một âm tiết. Một âm tiết có thể không có thanh mẫu, nhưng không bao giờ thiếu vận mẫu. Vận mẫu luôn chứa ít nhất một nguyên âm, và kết thúc bằng nguyên âm hoặc bằng phụ âm mũi n hay ng.
Thanh điệu (声调 shēngdiào)
Thanh điệu là đường cao độ của âm tiết, tức âm tiết đó lên hay xuống, cao hay thấp khi phát ra. Đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa tiếng Hán và các ngôn ngữ Ấn Âu: cùng một tổ hợp thanh mẫu cộng vận mẫu, đổi thanh điệu là ra một âm tiết khác hẳn, mang nghĩa khác hẳn.
Bộ bốn kinh điển: 辉 (huī): ánh sáng, 回 (huí): quay về, 毁 (huǐ): phá huỷ, 惠 (huì): ân huệ. Cả bốn đều có thanh mẫu h và vận mẫu ui, chỉ thanh điệu là khác. Người Việt vốn có sáu thanh nên rất dễ chấp nhận ý tưởng này, nhưng lại hay mắc lỗi ở chỗ gán nhầm thanh Trung sang thanh Việt. Mục về bốn thanh điệu bên dưới sẽ xử lý chuyện đó.
Ráp lại thành một âm tiết
Ba thành phần ghép lại theo thứ tự cố định. Lấy 学生 (xuésheng): học sinh làm ví dụ. Âm tiết đầu 学 (xué) có thanh mẫu x, vận mẫu üe viết thành ue vì ü bỏ hai chấm sau x, thanh 2. Âm tiết sau 生 (sheng) có thanh mẫu sh, vận mẫu eng, đọc thanh nhẹ nên không mang dấu. Ghép câu ngắn để thấy hệ thống vận hành: 我是学生 (wǒ shì xuésheng): tôi là học sinh. Muốn nói "chúng tôi" thì thêm hậu tố 们 (men) thành 我们 (wǒmen).
Vì sao tài liệu ghi 36 vận mẫu, tài liệu khác ghi 35, 37 hay 39?
Đây là câu hỏi khiến người tự học mất nhiều thời gian nhất, và phần lớn các bài trên mạng chỉ chọn một con số rồi bỏ qua các con số còn lại. Chúng tôi làm ngược lại: giải thích trọn vẹn để bạn dùng được bất kỳ giáo trình nào trong tay.
Điểm gốc: bảng vận mẫu năm 1958 có đúng 35 ô
Bảng vận mẫu trong 《汉语拼音方案》 (Hànyǔ Pīnyīn Fāng'àn: Phương án Pinyin Hán ngữ) được xếp thành bốn cột. Cột ngoài cùng bên trái là vận mẫu không có âm đệm, ba cột còn lại lần lượt là dãy i, dãy u và dãy ü. Đếm hết các ô có chữ, ta được:
| Dòng | Không âm đệm | Dãy i | Dãy u | Dãy ü | Số ô |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | i | u | ü | 3 | |
| 2 | a | ia | ua | 3 | |
| 3 | o | uo | 2 | ||
| 4 | e | ie | üe | 3 | |
| 5 | ai | uai | 2 | ||
| 6 | ei | uei | 2 | ||
| 7 | ao | iao | 2 | ||
| 8 | ou | iou | 2 | ||
| 9 | an | ian | uan | üan | 4 |
| 10 | en | in | uen | ün | 4 |
| 11 | ang | iang | uang | 3 | |
| 12 | eng | ing | ueng | 3 | |
| 13 | ong | iong | 2 | ||
| Tổng cộng | 35 | ||||
Vậy 35 là số ô có thật trong văn bản gốc. Ai đếm bảng thì ra 35, và họ đúng.
Bốn vận mẫu nằm ngoài bảng, ở phần ghi chú
Ngay dưới bảng, Phương án Pinyin có sáu ghi chú. Bốn vận mẫu sau đây xuất hiện trong ghi chú chứ không có ô riêng trong bảng:
- -i (trước): ghi chú thứ nhất nói bảy âm tiết 知 (zhī): biết, 蚩 (chī): ngu dốt, 诗 (shī): thơ, 日 (rì): ngày, 资 (zī): vốn, 雌 (cí): giống cái, 思 (sī): nghĩ đều dùng chữ i làm vận mẫu. Chữ i đi sau z, c, s là một nguyên âm riêng, không phải âm i thường.
- -i (sau): cũng từ ghi chú thứ nhất, chữ i đi sau zh, ch, sh, r lại là một nguyên âm khác nữa, cũng không phải âm i thường. Ba ký tự i này viết giống nhau nhưng đọc khác nhau hoàn toàn.
- er: ghi chú thứ hai quy định vận mẫu này viết thành er, và khi dùng làm đuôi vần thì viết thành r, ví dụ 儿童 (értóng): nhi đồng, 花儿 (huār): bông hoa.
- ê: ghi chú thứ ba quy định vận mẫu này khi đứng một mình thì viết thành ê. Nó chỉ dùng để ghi thán từ trong khẩu ngữ, rất hiếm gặp trong văn bản, nhưng chính âm ê này là phần e trong ie và üe.
Cái thang đếm: từ 35 lên 39
Đặt bốn vận mẫu ghi chú đó cạnh 35 ô trong bảng, mọi con số đang lưu hành đều hiện ra rõ ràng:
| Con số | Cách đếm | Thường gặp ở đâu |
|---|---|---|
| 24 | Bản rút gọn dạy vỡ lòng: 6 vận mẫu đơn, 8 vận mẫu kép, er, 5 vận mẫu mũi đuôi n, 4 vận mẫu mũi đuôi ng | Sách tập đọc tiểu học Trung Quốc, thường đi kèm con số 23 thanh mẫu |
| 35 | Đúng số ô của bảng vận mẫu trong Phương án Pinyin 1958 | Tài liệu trích nguyên văn bản gốc |
| 36 | 35 ô trong bảng cộng er. Cũng bằng 6 vận mẫu đơn cơ bản cộng 13 kép cộng 16 mũi cộng er | Cách đếm phổ biến nhất trong sách và khoá học tiếng Việt |
| 37 | 36 cộng ê | Cách đếm trung gian suy ra từ bảng, ít gặp trong sách |
| 38 | 36 cộng hai âm -i (trước) và -i (sau), bỏ ê | Cách đếm trung gian suy ra từ bảng, ít gặp trong sách |
| 39 | 35 cộng đủ cả bốn: -i (trước), -i (sau), er, ê. Chia lại thành 10 đơn, 13 kép, 16 mũi | Giáo trình Hán ngữ hiện đại và các sách ngữ âm học |
Nói cách khác, khoảng cách giữa 36 và 39 chỉ là ba âm hiếm: ê, -i (trước) và -i (sau). Bạn học theo sách ghi 36 vẫn phát âm đúng 100% tiếng Trung, vì hai âm -i kia bạn vẫn đọc hằng ngày trong 四 (sì): bốn và 是 (shì): là, chỉ là sách không tách chúng ra thành mục riêng mà gộp vào chữ i.
Vậy nên học theo con số nào?
Ngoại Ngữ Gia Sư khuyên dùng hệ 39 khi học bài bản, vì nó chia gọn thành ba nhóm 10 cộng 13 cộng 16 và giúp bạn không bao giờ nhầm 资 (zī): vốn với 知 (zhī): biết. Nhưng nếu giáo trình lớp bạn đang theo ghi 36, cứ giữ nguyên con số đó, đừng đổi giữa chừng. Điều thực sự quan trọng không phải con số mà là bạn đọc đúng từng âm, và tất cả các cách đếm đều dẫn tới cùng một bộ âm.
Tiện đây, cách đếm 23 thanh mẫu cũng theo logic y hệt: 21 âm thật cộng hai ký hiệu chính tả y và w. Bạn sẽ hiểu vì sao hai chữ cái này cần có mặt sau khi đọc mục quy tắc viết pinyin.
Bảng thanh mẫu tiếng Trung đầy đủ 21 âm
Bảng thanh mẫu dưới đây xếp theo bảy nhóm vị trí cấu âm, đúng thứ tự trong Phương án Pinyin. Cột cách đọc là mô tả gần đúng theo cảm nhận người Việt, dùng làm điểm tựa lúc đầu rồi chỉnh lại theo tai nghe, vì không có âm tiếng Việt nào trùng khít với âm tiếng Trung.
| Nhóm | Thanh mẫu | Bật hơi | Cách đọc mô tả cho người Việt | Ví dụ |
|---|---|---|---|---|
| Hai môi | b | Không | Gần "p" tiếng Việt. Hai môi chạm nhau rồi mở ra, không đẩy hơi | 八 (bā): số tám |
| p | Có | Như b nhưng bật hơi mạnh, gần "ph" mà vẫn khép hai môi trước | 怕 (pà): sợ | |
| m | Không | Giống "m" tiếng Việt | 妈 (mā): mẹ | |
| Môi răng | f | Không | Giống "ph" tiếng Việt, răng trên chạm nhẹ môi dưới | 飞 (fēi): bay |
| Đầu lưỡi giữa | d | Không | Gần "t" tiếng Việt, tuyệt đối không phải "đ" | 大 (dà): to, lớn |
| t | Có | Như d nhưng bật hơi mạnh, gần "th" tiếng Việt | 天 (tiān): trời | |
| n | Không | Giống "n" tiếng Việt | 你 (nǐ): bạn | |
| l | Không | Giống "l" tiếng Việt | 来 (lái): đến | |
| Gốc lưỡi | g | Không | Gần "c" hoặc "k" tiếng Việt, không phải "g" trong "gà" | 高 (gāo): cao |
| k | Có | Như g nhưng bật hơi mạnh, gần "kh" | 看 (kàn): nhìn, xem | |
| h | Không | Xát ở gốc lưỡi, nặng và khàn hơn "h" tiếng Việt | 好 (hǎo): tốt | |
| Mặt lưỡi | j | Không | Gần "ch" tiếng Việt. Mặt lưỡi áp vòm cứng, môi kéo dẹt | 家 (jiā): nhà |
| q | Có | Như j nhưng bật hơi mạnh | 去 (qù): đi | |
| x | Không | Gần "x" tiếng Việt nhưng lưỡi nâng cao hơn, môi kéo dẹt | 谢 (xiè): cảm ơn | |
| Đầu lưỡi sau (uốn lưỡi) | zh | Không | Đầu lưỡi cuốn ngược lên chạm vòm cứng. Tiếng Việt không có âm này | 中 (zhōng): giữa, trung |
| ch | Có | Như zh nhưng bật hơi mạnh | 吃 (chī): ăn | |
| sh | Không | Đầu lưỡi cuốn lên, xát hơi ra, gần "s" nặng của giọng miền Trung và miền Nam | 书 (shū): sách | |
| r | Không | Cuốn lưỡi như sh nhưng rung dây thanh, gần "r" giọng miền Nam | 人 (rén): người | |
| Đầu lưỡi trước | z | Không | Đầu lưỡi thẳng chạm chân răng trên rồi bật ra, gần "ts" đọc liền | 早 (zǎo): sớm |
| c | Có | Như z nhưng bật hơi mạnh | 菜 (cài): rau, món ăn | |
| s | Không | Giống "x" tiếng Việt, lưỡi để thẳng, không cuốn | 三 (sān): số ba |
Sáu cặp bật hơi và không bật hơi phải thuộc lòng
Điểm mấu chốt của cả bảng thanh mẫu nằm ở đây. Tiếng Trung phân biệt bật hơi và không bật hơi, trong khi tiếng Việt phân biệt hữu thanh và vô thanh. Hai trục hoàn toàn khác nhau, và hiểu nhầm chỗ này là nguồn gốc của phần lớn lỗi phát âm.
| Không bật hơi | Bật hơi | Cặp ví dụ |
|---|---|---|
| b | p | 爸 (bà): bố và 怕 (pà): sợ |
| d | t | 大 (dà): to và 他 (tā): anh ấy |
| g | k | 高 (gāo): cao và 看 (kàn): nhìn |
| j | q | 家 (jiā): nhà và 去 (qù): đi |
| zh | ch | 知 (zhī): biết và 吃 (chī): ăn |
| z | c | 早 (zǎo): sớm và 菜 (cài): rau |
Nghĩa là b, d, g trong tiếng Trung đều là âm vô thanh không bật hơi, chứ không phải âm hữu thanh như "b" hay "đ" tiếng Việt. Người Việt đọc 爸 (bà): bố thành "bà" với dây thanh rung ngay từ đầu, trong khi người Trung Quốc đọc nó gần với "pà" nhẹ hơn, không đẩy hơi. Cách tự kiểm tra rất đơn giản: cầm một mảnh giấy mỏng trước miệng, đọc 怕 (pà) thì giấy phải rung mạnh, đọc 爸 (bà) thì giấy gần như đứng yên.
Ba nhóm dễ lẫn nhất: j q x, zh ch sh r, z c s
Ba nhóm này đều nghe na ná nhau với tai người mới học, nhưng vị trí lưỡi khác nhau rõ rệt:
- j, q, x: mặt lưỡi nâng lên áp vào vòm cứng, đầu lưỡi hạ xuống chạm chân răng dưới, môi kéo dẹt sang hai bên. Nhóm này luôn đi với vận mẫu bắt đầu bằng i hoặc ü, không bao giờ đi với a, o, u thuần.
- zh, ch, sh, r: đầu lưỡi cuốn ngược lên phía vòm cứng, tạo ra khoảng rỗng phía dưới. Đây là nhóm khó nhất với người Việt vì tiếng Việt không có động tác cuốn lưỡi này.
- z, c, s: lưỡi phẳng hoàn toàn, không cuốn. Với z và c thì đầu lưỡi chạm chân răng trên rồi bật ra, còn với s thì đầu lưỡi chỉ áp sát chân răng để hơi xát qua khe.
Ba cặp luyện tương phản nên đọc mỗi ngày: 知 (zhī): biết và 资 (zī): vốn; 吃 (chī): ăn và 词 (cí): từ; 是 (shì): là và 四 (sì): bốn.
Bảng vận mẫu tiếng Trung đầy đủ 39 âm
Bảng vận mẫu dưới đây dùng hệ 39, chia theo ba nhóm chuẩn của ngữ âm học Hán ngữ hiện đại: 10 vận mẫu đơn, 13 vận mẫu kép và 16 vận mẫu mũi. Cộng lại đúng 39.
Vận mẫu đơn (单韵母 dān yùnmǔ): 10 âm
Sáu âm đầu bảng là những âm bạn gặp mỗi ngày. Bốn âm cuối bảng chính là bốn vận mẫu nằm ngoài bảng 35 ô đã nói ở trên.
| Vận mẫu | Cách đọc mô tả cho người Việt | Ví dụ |
|---|---|---|
| a | Miệng mở to, lưỡi hạ thấp, giống "a" tiếng Việt | 他 (tā): anh ấy |
| o | Môi tròn lại, giống "ô" hơi ngả về "o" | 波 (bō): sóng |
| e | Miệng dẹt, lưỡi lùi về sau. Gần "ơ" pha "ư", tuyệt đối không phải "e" tiếng Việt | 饿 (è): đói |
| i | Môi kéo dẹt, lưỡi nâng cao phía trước, giống "i" tiếng Việt | 一 (yī): số một |
| u | Môi chúm tròn nhỏ, lưỡi lùi sau, giống "u" tiếng Việt | 五 (wǔ): số năm |
| ü | Giữ lưỡi ở vị trí đọc "i" rồi chúm môi tròn lại. Gần "uy" đọc liền một hơi | 女 (nǚ): nữ, con gái |
| ê | Như "e" mở của tiếng Việt. Chỉ đứng một mình, không ghép với thanh mẫu nào | Chỉ dùng để ghi thán từ trong khẩu ngữ, rất hiếm gặp trong văn bản |
| -i (trước) | Âm ngân, chỉ đi sau z, c, s. Giữ nguyên khẩu hình phụ âm rồi ngân ra, không kéo thành "i" | 资 (zī): vốn; 四 (sì): bốn |
| -i (sau) | Âm ngân, chỉ đi sau zh, ch, sh, r. Cuốn lưỡi rồi ngân ra, không kéo thành "i" | 知 (zhī): biết; 日 (rì): ngày |
| er | Đọc "ơ" rồi cuốn đầu lưỡi lên, lưỡi không chạm vào đâu cả | 二 (èr): hai; 儿 (ér): con, trẻ |
Hai âm -i (trước) và -i (sau) là chỗ người Việt hay vấp nhất khi đọc bảng. Cùng viết là i, nhưng zi không đọc là "chi", shi không đọc là "si". Ba chữ i trong 你 (nǐ): bạn, 资 (zī): vốn và 知 (zhī): biết là ba nguyên âm khác nhau hoàn toàn. Mẹo an toàn: với z, c, s, zh, ch, sh, r, hãy đặt lưỡi vào đúng vị trí phụ âm rồi giữ nguyên mà ngân, đừng di chuyển lưỡi lên phía trước.
Riêng er và ê có một đặc điểm chung: chúng không ghép được với bất kỳ thanh mẫu nào, luôn tự đứng thành âm tiết. Đó là lý do người Trung Quốc viết 二 (èr): hai mà không bao giờ viết ber hay ser.
Vận mẫu kép (复韵母 fù yùnmǔ): 13 âm
Vận mẫu kép do hai hoặc ba nguyên âm ghép lại. Khi đọc phải trượt liền mạch từ nguyên âm này sang nguyên âm kia, không được tách rời thành hai tiếng.
| Vận mẫu | Cách đọc mô tả cho người Việt | Ví dụ |
|---|---|---|
| ai | "ai", trượt từ a sang i, phần a dài hơn | 爱 (ài): yêu |
| ei | "ây", phần cuối nhẹ và ngắn | 黑 (hēi): đen |
| ao | "ao", môi tròn dần lại ở cuối | 好 (hǎo): tốt |
| ou | "âu", bắt đầu từ ô rồi khép về u | 走 (zǒu): đi bộ |
| ia | "i a" đọc liền, gần "ia" | 家 (jiā): nhà |
| ie | Gần "iê". Chữ e ở đây đọc như "ê", không phải như e đơn | 谢 (xiè): cảm ơn |
| ua | "oa" | 花 (huā): hoa |
| uo | "uô" | 说 (shuō): nói |
| üe | Chúm môi đọc ü rồi trượt sang "ê" | 月 (yuè): trăng, tháng |
| iao | "i ao" liền mạch một hơi | 小 (xiǎo): nhỏ |
| iou (viết tắt iu) | "i âu". Khi có thanh mẫu đứng trước thì rút gọn thành iu | 六 (liù): số sáu |
| uai | "oai" | 快 (kuài): nhanh |
| uei (viết tắt ui) | "uây". Khi có thanh mẫu đứng trước thì rút gọn thành ui | 对 (duì): đúng |
Vận mẫu mũi (鼻韵母 bí yùnmǔ): 16 âm
Vận mẫu mũi kết thúc bằng phụ âm mũi n hoặc ng. Tám âm đuôi n gọi là vận mẫu mũi trước, tám âm đuôi ng gọi là vận mẫu mũi sau.
| Vận mẫu | Đuôi | Cách đọc mô tả cho người Việt | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| an | n | "an". Đầu lưỡi chốt vào chân răng trên khi kết thúc | 看 (kàn): nhìn |
| en | n | "ân", không phải "en" | 很 (hěn): rất |
| ian | n | "i en". Phần cuối ngả về "en", không phải "an" | 天 (tiān): trời |
| in | n | "in" | 心 (xīn): tim, lòng |
| uan | n | "oan" | 短 (duǎn): ngắn |
| uen (viết tắt un) | n | "uân". Khi có thanh mẫu đứng trước thì rút gọn thành un | 春 (chūn): mùa xuân |
| üan | n | Chúm môi đọc ü rồi sang "en", nghe gần "uy en" | 远 (yuǎn): xa |
| ün | n | Chúm môi đọc ü rồi đóng bằng "n" | 云 (yún): mây |
| ang | ng | "ang". Gốc lưỡi nâng chạm ngạc mềm, đầu lưỡi buông tự do | 忙 (máng): bận |
| eng | ng | "âng", không phải "eng" | 冷 (lěng): lạnh |
| iang | ng | "i ang" | 想 (xiǎng): nghĩ, muốn |
| ing | ng | "inh" | 请 (qǐng): mời, xin |
| uang | ng | "oang" | 黄 (huáng): màu vàng |
| ueng | ng | "uâng". Chỉ xuất hiện ở âm tiết không có thanh mẫu, viết là weng | 翁 (wēng): ông lão |
| ong | ng | "ung", môi tròn lại | 中 (zhōng): giữa |
| iong | ng | "i ung" | 熊 (xióng): con gấu |
Ba cặp đối lập người Việt phải luyện riêng vì chúng quyết định nghĩa: en và eng qua 很 (hěn): rất và 冷 (lěng): lạnh; in và ing qua 心 (xīn): tim và 星 (xīng): ngôi sao; an và ang qua 三 (sān): số ba và 上 (shàng): trên.
Cấu tạo bên trong một vận mẫu: vận đầu, vận chính, vận cuối
Vận mẫu không phải một khối liền. Ngữ âm học Hán ngữ chia nó thành ba tầng, và hiểu ba tầng này là chìa khoá để nắm luôn quy tắc đặt dấu thanh cùng các dạng viết tắt.
- Vận đầu (韵头 yùntóu), còn gọi là âm đệm (介音 jièyīn): chỉ có ba nguyên âm được làm vận đầu là i, u và ü. Đó là lý do bảng vận mẫu chia đúng ba dãy i, u, ü.
- Vận chính (韵腹 yùnfù): nguyên âm chính, mở miệng to nhất, dài nhất trong vận mẫu. Mọi vận mẫu đều bắt buộc có vận chính.
- Vận cuối (韵尾 yùnwěi): chỉ có bốn thứ được làm vận cuối, là hai nguyên âm i, u và hai phụ âm mũi n, ng. Riêng vận cuối u khi đứng sau a thì chính tả viết thành chữ o, nên chữ o ở cuối ao và iao thật ra chính là vận cuối u.
Mổ vận mẫu ian ra: i là vận đầu, a là vận chính, n là vận cuối. Mổ ao ra: a là vận chính, o là vận cuối, không có vận đầu. Mổ i ra: chỉ có vận chính.
Ba tầng này giải thích luôn một chuyện làm nhiều người bối rối: vì sao iou viết thành iu, uei viết thành ui, uen viết thành un. Khi có thanh mẫu đứng trước, vận chính ở giữa bị nuốt ngắn lại nên chính tả lược nó đi cho gọn. Trong 六 (liù): số sáu, chữ o của iou biến mất; trong 对 (duì): đúng, chữ e của uei biến mất; trong 春 (chūn): mùa xuân, chữ e của uen biến mất. Vận chính vẫn còn khi đọc, nhưng nó đã biến mất khỏi chính tả nên dấu thanh không còn chỗ đứng vốn có. Tiêu chuẩn GB/T 16159-2012 vì thế đặt riêng một quy định cho hai trường hợp này: với iu và ui, dấu thanh đánh trên chữ cái cuối. Đây là một quy định riêng phải nhớ, không suy ra được từ nguyên tắc "đánh trên vận chính", và chúng tôi trình bày kỹ ở mục quy tắc đặt dấu thanh bên dưới.
Riêng nhóm vận mẫu kép và các cặp dễ nhầm như ian, iang, uang, chuỗi bài của Ngoại Ngữ Gia Sư còn có hai bài chuyên sâu là "Vận mẫu kép: 13 âm, cách đọc và 5 lỗi người Việt" và "Vận mẫu tiếng Trung: phân biệt ian, iang và uang". Bài "Bảng ghép thanh mẫu vận mẫu: 400 âm tiết tra nhanh" liệt kê toàn bộ các tổ hợp ghép được, dùng để tra khi bạn không chắc một tổ hợp có tồn tại hay không.
Bốn thanh điệu và thanh nhẹ trong tiếng Trung
Bốn thanh điệu là phần khiến tiếng Trung khác hẳn tiếng Anh, và cũng là phần người Việt có lợi thế rõ rệt vì tiếng Việt vốn là ngôn ngữ có thanh. Cái bẫy nằm ở chỗ thanh tiếng Trung không trùng với thanh tiếng Việt, chỉ gần giống thôi.
Ngữ âm học mô tả cao độ thanh điệu bằng phương pháp năm bậc (五度标记法 wǔdù biāojìfǎ), do nhà ngôn ngữ học Triệu Nguyên Nhiệm công bố năm 1930. Dựng một trục dọc, chia làm năm bậc, bậc 1 thấp nhất và bậc 5 cao nhất, rồi ghi đường đi của thanh bằng hai hoặc ba con số.
| Thanh | Tên gọi | Trị số | Đường đi và cảm giác | Ví dụ |
|---|---|---|---|---|
| Thanh 1 | 阴平 (yīnpíng) | 55 | Cao và bằng từ đầu đến cuối, không lên không xuống. Giữ đều như ngân một nốt nhạc | 妈 (mā): mẹ |
| Thanh 2 | 阳平 (yángpíng) | 35 | Bắt đầu ở bậc trung rồi đi lên bậc cao nhất, như khi bạn hỏi lại "hả?" | 麻 (má): cây gai, tê |
| Thanh 3 | 上声 (shǎngshēng) | 214 | Xuống thấp rồi vòng lên, gần dấu hỏi tiếng Việt nhưng đuôi phải vút lên | 马 (mǎ): con ngựa |
| Thanh 4 | 去声 (qùshēng) | 51 | Đổ dốc từ bậc cao nhất xuống bậc thấp nhất, dứt khoát và ngắn nhất trong bốn thanh | 骂 (mà): mắng, chửi |
| Thanh nhẹ | 轻声 (qīngshēng) | Không cố định | Không đánh dấu, đọc ngắn và nhẹ, cao độ phụ thuộc thanh của âm tiết đứng trước | 吗 (ma): trợ từ nghi vấn |
Vài điểm thực dụng rút ra từ bảng trị số:
- Thanh 1 cao hơn bạn tưởng. Trị số 55 nghĩa là phải giữ ở bậc cao nhất suốt cả âm tiết. Người Việt hay đọc thanh 1 ở tầm trung như thanh ngang tiếng Việt, làm câu nghe bẹt và thiếu tự nhiên.
- Thanh 3 không phải dấu hỏi. Trị số 214 nghĩa là xuống rồi phải lên lại. Dấu hỏi tiếng Việt chỉ xuống rồi dừng. Nếu bạn bỏ mất đoạn vút lên ở cuối, người nghe dễ hiểu thành thanh 4.
- Thanh 4 ngắn nhất. Đây là thanh có độ dài ngắn nhất, nên hãy đọc nó dứt khoát chứ đừng kéo dài. Kéo dài thanh 4 là một trong những dấu hiệu rõ nhất của người nước ngoài học tiếng Trung.
Thanh nhẹ: không phải thanh thứ năm
Thanh nhẹ là một số âm tiết bị mất thanh gốc khi nằm trong từ hoặc trong câu, đọc thành một âm ngắn, nhẹ và mờ. Nó không phải một thanh độc lập, và khi viết pinyin thì không đánh dấu.
Những trường hợp đọc thanh nhẹ có quy luật khá rõ:
- Trợ từ ngữ khí 吗 (ma), 呢 (ne), 吧 (ba), 啊 (a): 是吗 (shì ma): thế à; 走吧 (zǒu ba): đi thôi.
- Trợ từ kết cấu 的 (de), 地 (de), 得 (de): 我的 (wǒ de): của tôi; 慢慢地 (mànmàn de): một cách chậm rãi.
- Trợ từ động thái 着 (zhe), 了 (le), 过 (guo): 来了 (lái le): đến rồi; 看过 (kànguo): đã xem qua.
- Hậu tố danh từ 子 (zi), 头 (tou), 们 (men): 桌子 (zhuōzi): cái bàn; 木头 (mùtou): gỗ; 朋友们 (péngyoumen): các bạn.
- Từ chỉ phương vị đứng sau danh từ: 墙上 (qiángshang): trên tường; 那边 (nàbian): bên kia.
- Âm tiết lặp trong từ láy và động từ lặp: 妈妈 (māma): mẹ; 爸爸 (bàba): bố; 说说 (shuōshuo): nói thử xem.
- Động từ chỉ hướng đứng sau động từ chính: 出来 (chūlai): đi ra; 回来 (huílai): trở về.
- Một số từ hai âm tiết quen dùng: 明白 (míngbai): hiểu rõ; 知道 (zhīdao): biết; 衣服 (yīfu): quần áo; 眼睛 (yǎnjing): con mắt; 学生 (xuésheng): học sinh.
Thanh nhẹ có thể đổi hẳn nghĩa
Đây là lý do không được coi thanh nhẹ là chuyện nhỏ. Cùng hai chữ Hán, đọc thanh nhẹ hay không quyết định nghĩa và cả từ loại:
| Đọc đủ thanh | Đọc thanh nhẹ |
|---|---|
| 东西 (dōngxī): phương đông và phương tây | 东西 (dōngxi): đồ vật, đồ đạc |
| 兄弟 (xiōngdì): anh và em, anh em nói chung | 兄弟 (xiōngdi): em trai |
| 言语 (yányǔ): lời nói, ngôn từ | 言语 (yányu): lên tiếng, cất tiếng |
| 运气 (yùnqì): vận khí, một cách luyện khí công | 运气 (yùnqi): sự may mắn |
Biến điệu: khi đọc khác với khi viết
Biến điệu (变调 biàndiào) là hiện tượng một âm tiết đổi thanh khi đứng cạnh âm tiết khác. Đây là phần mà rất nhiều người tự học bỏ qua, rồi đọc câu nào cũng đúng từng chữ mà cả câu vẫn nghe sai. Có ba nhóm quy tắc cần thuộc ngay từ những buổi đầu.
Biến điệu của thanh 3
Thanh 3 gần như không bao giờ được đọc đầy đủ trị số 214, trừ khi nó đứng một mình hoặc ở cuối câu. Có hai kiểu biến đổi:
- Nửa thanh 3: khi thanh 3 đứng trước thanh 1, thanh 2 hoặc thanh 4, trị số rút từ 214 xuống còn 21, tức chỉ xuống mà không lên lại. Nghe gần như một thanh thấp và bằng. Ví dụ 每天 (měitiān): mỗi ngày, 每年 (měinián): mỗi năm, 每月 (měiyuè): mỗi tháng. Cả ba trường hợp chữ 每 (měi): mỗi, đều đọc nửa thanh 3.
- Thanh 3 thành thanh 2: khi hai thanh 3 đứng liền nhau, âm tiết trước biến thành thanh 2, trị số từ 214 chuyển sang 35. Ví dụ 你好 (nǐ hǎo): xin chào, viết là nǐ hǎo nhưng đọc thành "ní hǎo". Tương tự 美好 (měihǎo): tốt đẹp, 厂长 (chǎngzhǎng): giám đốc nhà máy, 领导 (lǐngdǎo): lãnh đạo.
Cách nhớ gọn: thanh 3 chỉ được đọc trọn vẹn khi nó đứng một mình hoặc ở cuối. Ở mọi vị trí khác nó đều bị rút ngắn theo một trong hai kiểu trên.
Biến điệu của 一 (yī): số một
Chữ 一 (yī): số một, có thanh gốc là thanh 1, nhưng đổi thanh theo âm tiết đứng sau:
| Vị trí | Đọc thành | Ví dụ |
|---|---|---|
| Đứng một mình, đọc số đếm, đọc số thứ tự hoặc tên tháng, hoặc ở cuối từ | Giữ thanh 1: yī | 一、二、三 (yī, èr, sān): một, hai, ba; 第一 (dìyī): thứ nhất; 一月 (yīyuè): tháng Giêng; 三十一 (sānshíyī): ba mươi mốt |
| Đứng trước thanh 4 | Đổi sang thanh 2: yí | 一定 (yídìng): nhất định; 一样 (yíyàng): giống nhau; 一万 (yíwàn): một vạn |
| Đứng trước thanh 1, thanh 2 hoặc thanh 3 | Đổi sang thanh 4: yì | 一天 (yìtiān): một ngày; 一年 (yìnián): một năm; 一起 (yìqǐ): cùng nhau |
Chỗ bẫy nằm ở dòng đầu bảng: khi 一 (yī) đóng vai số thứ tự thì nó giữ thanh 1 dù chữ đứng sau mang thanh 4. Vì vậy tên tháng đọc là 一月 (yīyuè): tháng Giêng, còn khoảng thời gian một tháng lại đọc là 一个月 (yí ge yuè): một tháng. Cùng một chữ 一 (yī): số một, hai cách đọc khác nhau.
Biến điệu của 不 (bù): không
Chữ 不 (bù): không, có thanh gốc là thanh 4, và quy tắc đơn giản hơn 一 (yī): số một, vì chỉ có một trường hợp đổi:
| Vị trí | Đọc thành | Ví dụ |
|---|---|---|
| Đứng một mình, ở cuối câu, hoặc trước thanh 1, 2, 3 | Giữ thanh 4: bù | 不说 (bù shuō): không nói; 不来 (bù lái): không đến; 不好 (bù hǎo): không tốt |
| Đứng trước thanh 4 | Đổi sang thanh 2: bú | 不去 (bú qù): không đi; 不对 (bú duì): không đúng; 不是 (bú shì): không phải |
Cả hai chữ còn một ca nữa trong khẩu ngữ: khi bị kẹp giữa hai thành phần lặp lại thì chúng đọc thành thanh nhẹ, như 说一说 (shuō yi shuō): nói thử xem, 行不行 (xíng bu xíng): có được không, 对不起 (duìbuqǐ): xin lỗi.
Một lưu ý quan trọng về chính tả
Theo tiêu chuẩn quốc gia 《汉语拼音正词法基本规则》 (Hànyǔ Pīnyīn Zhèngcífǎ Jīběn Guīzé: Quy tắc cơ bản về chính tả pinyin Hán ngữ), mã số GB/T 16159-2012, ban hành ngày 29/06/2012 và có hiệu lực từ 01/10/2012, hai chữ 一 (yī) và 不 (bù) viết theo thanh gốc chứ không viết theo thanh đã biến đổi. Nghĩa là trong văn bản chuẩn bạn sẽ thấy viết yī và bù, dù khi đọc phải đổi thành yí, yì hay bú. Riêng tài liệu dạy tiếng cho người nước ngoài được phép ghi thanh đã biến đổi để người học dễ theo, nên bạn sẽ gặp cả hai cách trong sách. Gặp yī mà ngữ cảnh là trước thanh 4, cứ đọc thành yí.
Hiện tượng uốn lưỡi cuối từ
Còn một dạng biến đổi nữa hay gặp trong khẩu ngữ Bắc Kinh, gọi là 儿化 (érhuà): uốn lưỡi hoá. Hậu tố 儿 (ér): con, trẻ, không tự thành một âm tiết mà nhập vào âm tiết trước, làm vận mẫu của âm tiết ấy thành một vận mẫu cuốn lưỡi. Phương án Pinyin quy định viết bằng cách thêm chữ r vào sau vận mẫu gốc: 花儿 (huār): bông hoa, chứ không đọc tách thành huā ér.
Uốn lưỡi hoá có thể đổi từ loại và đổi nghĩa: 盖 (gài) là động từ đậy, còn 盖儿 (gàir) là danh từ cái nắp; 信 (xìn) là lá thư, còn 信儿 (xìnr) là tin tức. Người học ở trình độ nhập môn chỉ cần nhận ra hiện tượng này khi nghe, chưa cần chủ động dùng.
Quy tắc đặt dấu thanh và viết pinyin chuẩn
Đọc đúng mới là một nửa. Nửa còn lại là viết đúng, vì viết sai pinyin sẽ làm bạn gõ máy sai, tra từ điển không ra, và ghi bài sai trong suốt quá trình học. Các quy tắc dưới đây lấy từ Phương án Pinyin 1958 và tiêu chuẩn quốc gia GB/T 16159-2012.
Dấu thanh đặt ở đâu
Nguyên tắc gốc rất ngắn: dấu thanh đánh trên nguyên âm chính của âm tiết, tức trên vận chính. Thanh nhẹ không đánh dấu. Từ nguyên tắc này, sách dạy tiếng rút ra một mẹo tra theo thứ tự ưu tiên a, o, e, i, u, ü:
- Trong vận mẫu có chữ a thì dấu nằm trên a: 好 (hǎo): tốt, 快 (kuài): nhanh, 想 (xiǎng): nghĩ.
- Không có a thì tìm o hoặc e: 走 (zǒu): đi bộ, 谢 (xiè): cảm ơn, 冷 (lěng): lạnh.
- Không có cả ba thì mới xét đến i, u, ü: 你 (nǐ): bạn, 五 (wǔ): số năm, 女 (nǚ): nữ.
Mẹo này đúng trong gần như mọi trường hợp vì a, o, e luôn giành vai trò vận chính khi có mặt. Nhưng hãy nhớ nó là mẹo suy ra, còn quy tắc thật là "đánh trên vận chính".
Ngoại lệ iu và ui: dấu luôn ở chữ cái cuối
Đây là chỗ sai nhiều nhất. Tiêu chuẩn GB/T 16159-2012 quy định rõ: với iu và ui, dấu thanh đặt ở chữ cái cuối cùng.
- Viết 六 (liù): số sáu, không viết "lìu". Viết 牛 (niú): con bò, không viết "níu".
- Viết 对 (duì): đúng, không viết "dùi". Viết 归 (guī): trở về, không viết "gūi".
Gốc của chuyện này đã nói ở mục cấu tạo vận mẫu: dạng đầy đủ là iou và uei, vận chính o và e bị lược khỏi chính tả khi viết tắt sau thanh mẫu. Không còn vận chính trên mặt chữ để mang dấu, nên tiêu chuẩn quy định riêng rằng dấu lùi về chữ cái cuối. Đây là quy định riêng chứ không phải hệ quả của nguyên tắc chung, vì vậy phải nhớ thẳng.
Chữ i mang dấu thì bỏ chấm
Khi chữ i mang dấu thanh, cái chấm phía trên bị bỏ đi. Viết nǐ, qǐng, xīn, chứ không giữ cả chấm lẫn dấu. Quy tắc nhỏ nhưng là dấu hiệu nhận ra ngay một văn bản pinyin được gõ cẩn thận hay không.
Quy tắc ü bỏ hai chấm
Phương án Pinyin quy định như sau:
- Sau j, q, x: ü bỏ hai chấm, viết thành u. 居 (jū): cư trú, 区 (qū): khu vực, 虚 (xū): hư, rỗng. Không sợ nhầm vì ba thanh mẫu này không bao giờ ghép được với u thật.
- Khi không có thanh mẫu: viết thành yu, cũng bỏ hai chấm. 鱼 (yú): con cá, 月 (yuè): trăng, tháng, 远 (yuǎn): xa, 云 (yún): mây.
- Sau n và l: bắt buộc giữ nguyên hai chấm, vì n và l ghép được với cả u lẫn ü. 女 (nǚ): nữ khác 努 (nǔ): cố gắng; 吕 (lǚ): họ Lữ khác 路 (lù): con đường; 绿 (lǜ): màu xanh lá khác 路 (lù).
Vì sao phải có y và w
Phương án Pinyin dành hẳn một ghi chú cho chuyện này. Khi vận mẫu dãy i, dãy u hoặc dãy ü đứng đầu âm tiết mà không có thanh mẫu, chính tả phải thêm y hoặc w vào:
| Dãy | Dạng gốc | Dạng viết khi không có thanh mẫu |
|---|---|---|
| Dãy i | i, ia, ie, iao, iou, ian, in, iang, ing, iong | yi, ya, ye, yao, you, yan, yin, yang, ying, yong |
| Dãy u | u, ua, uo, uai, uei, uan, uen, uang, ueng | wu, wa, wo, wai, wei, wan, wen, wang, weng |
| Dãy ü | ü, üe, üan, ün | yu, yue, yuan, yun |
Mục đích của y và w là tách ranh giới âm tiết, để khi viết liền nhiều âm tiết người đọc vẫn biết chỗ nào bắt đầu một âm tiết mới. Chúng là ký hiệu chính tả, không phải phụ âm đầu. Chính vì đóng vai trò dễ thấy như vậy nên sách vỡ lòng mới xếp chúng vào bảng thanh mẫu cho đủ 23, còn ngữ âm học thì giữ con số 21.
Dấu ngăn âm tiết
Khi một âm tiết bắt đầu bằng a, o hoặc e đứng nối sau âm tiết khác và làm ranh giới bị lẫn lộn, Phương án Pinyin quy định dùng dấu ngăn âm tiết (隔音符号 géyīn fúhào) hình dấu nháy đơn để tách ra. Ví dụ trong văn bản gốc là 皮袄 (pí'ǎo): áo khoác lông. Ví dụ quen thuộc nhất với người Việt là địa danh 西安 (Xī'ān): Tây An. Không có dấu nháy, chuỗi chữ cái xian sẽ bị đọc thành một âm tiết duy nhất là 先 (xiān): trước. Một dấu nháy đơn đổi hẳn nghĩa của cả từ.
Viết theo từ, không viết theo chữ
Nguyên tắc tổng quát của GB/T 16159-2012 là pinyin tiếng Phổ thông lấy từ làm đơn vị viết, chứ không viết rời từng âm tiết. Viết 图书馆 (túshūguǎn): thư viện liền một cụm, viết 朋友 (péngyou): bạn bè liền nhau, chứ không viết tách ra thành tu shu guan. Người mới học hay viết rời từng chữ theo thói quen nhìn chữ Hán, và đó là dấu hiệu dễ nhận nhất của bài viết chưa chuẩn.
Chín lỗi phát âm người Việt hay mắc và cách tự sửa
Danh sách này được xếp theo mức độ ảnh hưởng tới việc người nghe có hiểu bạn hay không, từ nặng đến nhẹ. Mỗi lỗi đều kèm cách tự kiểm tra tại nhà.
1. Không phân biệt bật hơi và không bật hơi
Đây là lỗi nặng nhất vì nó làm đổi nghĩa. Người Việt đọc b, d, g theo kiểu hữu thanh của tiếng Việt, khiến cặp b và p, d và t, g và k nghe như nhau với tai người Trung Quốc. Cách sửa: đặt mảnh giấy mỏng trước miệng. Đọc 怕 (pà): sợ và 他 (tā): anh ấy thì giấy phải bay rõ. Đọc 爸 (bà): bố và 大 (dà): to thì giấy gần như không động. Luyện đến khi tự điều khiển được luồng hơi.
2. Lẫn nhóm uốn lưỡi zh, ch, sh, r với nhóm lưỡi thẳng z, c, s
Tiếng Việt không có động tác cuốn ngược đầu lưỡi, nên người học thường thay zh bằng "tr", sh bằng "s" và bỏ hẳn phần cuốn lưỡi. Cách sửa: cuốn đầu lưỡi ngược lên, đặt vào phần trước vòm cứng ngay sau gờ lợi, giữ nguyên đó rồi mới phát âm. Ba cặp luyện: 知 (zhī): biết và 资 (zī): vốn; 吃 (chī): ăn và 词 (cí): từ; 是 (shì): là và 四 (sì): bốn.
3. Lẫn n và ng ở cuối vần
Người học hay đọc 很 (hěn): rất thành "hěng", hoặc 心 (xīn): tim thành "xīng". Cách sửa: ghi nhớ hai vị trí khác nhau. Vần đóng bằng n thì đầu lưỡi phải chốt vào chân răng trên. Vần đóng bằng ng thì gốc lưỡi nâng lên chạm ngạc mềm còn đầu lưỡi buông tự do, không chạm vào đâu cả. Đặt ngón tay dưới cằm, đọc ng sẽ thấy cơ dưới cằm căng lên rõ hơn.
4. Đọc e thành "e" tiếng Việt
Vận mẫu e đơn đọc gần "ơ" pha "ư" với miệng dẹt, không phải "e" trong "mẹ". Cách sửa: đọc chữ "ư" rồi hạ lưỡi xuống một chút, giữ môi không tròn. Luyện với 饿 (è): đói và 喝 (hē): uống. Lưu ý phân biệt: chỉ khi e nằm trong ie và üe thì mới đọc gần "ê", như 谢 (xiè): cảm ơn và 月 (yuè): trăng.
5. Đọc ü thành u
Rất nhiều người đọc 女 (nǚ): nữ thành "nủ" và 去 (qù): đi thành "chu". Cách sửa: đọc "i" rồi giữ nguyên vị trí lưỡi, chỉ chúm môi tròn lại. Điểm mấu chốt là lưỡi không được lùi về sau, chỉ có môi thay đổi. Luyện cặp 女 (nǚ): nữ và 努 (nǔ): cố gắng cho tới khi nghe ra hai âm khác nhau.
6. Đọc thanh 3 mà quên đoạn vút lên
Thanh 3 có trị số 214, tức xuống rồi phải lên. Người Việt hay gán nó cho dấu hỏi rồi dừng ở đáy, làm nó nghe giống thanh 4. Cách sửa: tập đọc 马 (mǎ): con ngựa thật chậm, kéo dài đoạn đuôi đi lên. Sau khi quen thì rút ngắn lại. Nhưng nhớ rằng trong câu thật, thanh 3 hầu như luôn bị rút gọn theo quy tắc biến điệu đã nêu, nên đừng vút lên ở mọi chỗ.
7. Quên biến điệu của 一 (yī) và 不 (bù)
Đọc 不是 (bú shì): không phải thành "bù shì" là lỗi rất dễ nhận ra. Cách sửa: mỗi lần gặp 一 (yī) hoặc 不 (bù), phản xạ đầu tiên là nhìn thanh của chữ đứng ngay sau nó. Trước thanh 4 thì cả hai đều đọc thành thanh 2. Học thuộc vài cụm quen: 一样 (yíyàng): giống nhau, 不对 (bú duì): không đúng, 不去 (bú qù): không đi.
8. Đọc ian thành "i an"
Vận mẫu ian có phần cuối ngả về "en" chứ không phải "an". 天 (tiān): trời nghe gần "thiên" hơn là "thi an". Cách sửa: so sánh trực tiếp 天 (tiān): trời với 汤 (tāng): canh để thấy a trong ian bị kéo lên cao và ngắn lại. Tương tự với 远 (yuǎn): xa, phần cuối cũng là "en".
9. Đọc rời từng âm tiết, mất nhịp cả câu
Đây là lỗi tinh vi nhất, và là lý do khiến người đọc đúng từng chữ vẫn bị hỏi lại. Tiếng Trung đi theo cụm, không đi theo từng chữ rời. Cách sửa: luyện theo cụm hai âm tiết ngay từ đầu, không đọc rời từng chữ. Bắt đầu bằng những cụm đã quen: 你好 (nǐ hǎo): xin chào, 谢谢 (xièxie): cảm ơn, 学生 (xuésheng): học sinh, 朋友 (péngyou): bạn bè. Cụm nào có thanh nhẹ thì phải đọc nhẹ thật, đừng đọc đủ thanh.
Một cách tự kiểm tra không tốn tiền
Bật chức năng nhập liệu tiếng Trung bằng giọng nói trên điện thoại, đọc vào đó những cặp âm bạn nghi là đang lẫn, rồi xem máy nhận ra chữ nào. Nếu bạn định đọc 四 (sì): bốn mà máy hiện ra 是 (shì): là, bạn biết ngay là đang cuốn lưỡi thừa. Công cụ này không thay được tai người thầy, nhưng nó cho bạn phản hồi tức thì và rất kiên nhẫn.
Ở các lớp tiếng Trung của chúng tôi, khối phát âm luôn được đặt trước khối từ vựng, và giáo viên nghe trực tiếp từng học viên để chỉnh khẩu hình, đặc biệt ở nhóm uốn lưỡi và cặp n với ng. Đây là hai chỗ mà tài liệu viết không thay thế được tai người nghe, vì bạn không thể tự biết đã cuốn lưỡi đủ hay chưa nếu không có ai đối chiếu.
Ghép được bao nhiêu âm tiết và học bảng pinyin trong bao lâu
Nhìn con số 21 nhân 39 rồi nhân 4, nhiều người mới học hoảng: chẳng lẽ phải nhớ hơn ba nghìn âm? Thực tế nhẹ hơn nhiều, vì phần lớn tổ hợp không tồn tại. Thanh mẫu nhóm j, q, x chỉ ghép được với vận mẫu dãy i và dãy ü. Nhóm z, c, s và nhóm zh, ch, sh, r không bao giờ ghép với dãy ü, cũng không ghép với các vận mẫu dãy i như ia, ie, iao hay ian; chữ i viết sau chúng là hai âm -i riêng đã nói ở trên. Vận mẫu ueng chỉ xuất hiện ở âm tiết không có thanh mẫu. Các vận mẫu er và ê không ghép với thanh mẫu nào.
Sau khi loại hết các tổ hợp không tồn tại, giáo trình ngữ âm tiếng Phổ thông ghi nhận hơn 400 âm tiết cơ sở khi chưa tính thanh điệu, và khoảng 1.300 âm tiết khi đã tính thanh điệu.
Có một con số chính thức khác đáng để bạn ghim lại. Chuẩn quốc gia 《国际中文教育中文水平等级标准》 (Guójì Zhōngwén Jiàoyù Zhōngwén Shuǐpíng Děngjí Biāozhǔn: Chuẩn phân bậc trình độ tiếng Trung trong giáo dục tiếng Trung quốc tế), mã số GF0025-2021, do Bộ Giáo dục và Uỷ ban Công tác Ngôn ngữ Văn tự Nhà nước Trung Quốc ban hành và có hiệu lực từ 01/07/2021, chia trình độ thành ba đẳng chín bậc và quy định rõ số âm tiết cần nắm ở từng chặng:
| Đẳng | Bậc | Âm tiết mới trong bậc | Âm tiết tích luỹ |
|---|---|---|---|
| Sơ đẳng | Bậc 1 | 269 | 269 |
| Bậc 2 | 199 | 468 | |
| Bậc 3 | 140 | 608 | |
| Trung đẳng | Bậc 4 | 116 | 724 |
| Bậc 5 | 98 | 822 | |
| Các bậc còn lại, cộng dồn hết chín bậc | 288 | 1.110 | |
Con số 1.110 ở cuối bảng là kho âm tiết mà chuẩn yêu cầu cho trọn chín bậc, nhỏ hơn tổng số âm tiết mang thanh của cả tiếng Phổ thông vì chuẩn chỉ lấy phần thực sự dùng trong giảng dạy. Điểm đáng chú ý: ngay bậc 1 đã yêu cầu 269 âm tiết, tức gần một phần tư toàn bộ kho âm tiết của cả chín bậc. Lên các bậc sau, số âm tiết mới giảm dần rất nhanh, còn số từ vựng thì tăng vọt. Điều đó nói lên một sự thật quan trọng về cách học tiếng Trung: ngữ âm là khoản đầu tư một lần ở ngay đầu hành trình. Bạn trả xong học phí phát âm trong vài tuần đầu, rồi dùng lại vốn đó suốt nhiều năm. Ngược lại, phát âm sai từ đầu thì mỗi từ mới học về sau đều mang theo cái sai đó.
Lộ trình học bảng thanh mẫu vận mẫu theo tuần
Đây là cách chúng tôi sắp xếp khối phát âm cho người bắt đầu từ con số không:
- Buổi 1: sáu vận mẫu đơn cơ bản a, o, e, i, u, ü và bốn thanh điệu. Chỉ đọc âm rời, chưa ghép.
- Buổi 2: các nhóm thanh mẫu dễ trước, gồm b, p, m, f, d, t, n, l, g, k, h. Ghép với sáu vận mẫu đơn đã học, tập nghe phân biệt cặp bật hơi.
- Buổi 3: nhóm mặt lưỡi j, q, x và toàn bộ vận mẫu kép. Bắt đầu đọc cụm hai âm tiết.
- Buổi 4: hai nhóm khó nhất là zh, ch, sh, r và z, c, s, cùng hai âm -i (trước) và -i (sau). Đây là buổi tốn sức nhất.
- Buổi 5: toàn bộ 16 vận mẫu mũi, trọng tâm là ba cặp en và eng, in và ing, an và ang.
- Buổi 6: biến điệu thanh 3, biến điệu 一 (yī) và 不 (bù), thanh nhẹ, quy tắc đặt dấu thanh. Đọc đoạn văn ngắn.
Với lịch hai buổi mỗi tuần, khối phát âm gói gọn trong khoảng ba tuần để ghép vần được toàn bộ hệ thống. Nhưng hai nhóm âm uốn lưỡi và cặp n với ng thì cần thêm vài tuần nữa để thành phản xạ, vì đó là thói quen cơ miệng chứ không phải kiến thức. Kiến thức thì nhớ trong một buổi, thói quen thì phải lặp lại nhiều lần mới đổi được.
Ba nguyên tắc luyện tập
- Luyện theo cặp đối lập, không luyện âm đơn lẻ. Đọc riêng zh mãi cũng không giúp bạn phân biệt được nó với z. Phải đọc 知 (zhī) và 资 (zī) liền nhau thì tai mới học được ranh giới.
- Tự ghi âm giọng đọc mỗi tuần một lần. Tai người nghe lại bản ghi nhạy hơn hẳn tai của chính người đang nói. Nghe lại bản ghi của tuần trước là cách tự đánh giá rẻ nhất.
- Sửa sớm hơn là sửa nhiều. Một âm sai được sửa trong tuần đầu tốn vài phút. Cũng âm đó sau sáu tháng dùng sai hằng ngày thì tốn hàng tháng để gỡ.
Ba điều người tự học hay hỏi thêm
Có cần học thuộc lòng cả bảng thanh mẫu và bảng vận mẫu không? Không cần học vẹt theo thứ tự. Cái cần thuộc là sáu vận mẫu đơn cơ bản, sáu cặp bật hơi, và quy luật ghép: thêm vận đầu i, u hoặc ü vào trước, hoặc thêm vận cuối i, u (sau a thì chính tả viết là o) vào sau thì thành vận mẫu kép; thêm vận cuối n hoặc ng thì thành vận mẫu mũi. Nắm quy luật rồi thì cả bảng tự hiện ra mà không phải nhớ máy móc.
Học pinyin xong có đọc được chữ Hán không? Chưa. Pinyin chỉ ghi âm, nó giúp bạn tra từ điển, gõ máy và phát âm đúng. Muốn đọc hiểu văn bản vẫn phải học mặt chữ Hán song song. Điểm lợi là gõ pinyin để ra chữ Hán khiến quá trình học mặt chữ nhanh hơn nhiều so với viết tay thuần tuý.
Vì sao đọc đúng từng âm mà người Trung Quốc vẫn không hiểu? Bốn nguyên nhân, xếp đúng theo thứ tự ở mục chín lỗi bên trên. Một là không phân biệt bật hơi, khiến 爸 (bà): bố nghe thành 怕 (pà): sợ. Hai là thanh điệu sai, ví dụ 买 (mǎi): mua nghe thành 卖 (mài): bán. Ba là quên biến điệu, khiến cả cụm lệch nhịp. Bốn là đọc rời từng chữ thay vì đọc theo cụm.
Câu hỏi thường gặp về thanh mẫu, vận mẫu và thanh điệu
Tiếng Trung có bao nhiêu thanh mẫu và vận mẫu? Tiếng Phổ thông Trung Quốc có 21 thanh mẫu và 39 vận mẫu, kèm 4 thanh điệu và một thanh nhẹ. 21 thanh mẫu là b, p, m, f, d, t, n, l, g, k, h, j, q, x, zh, ch, sh, r, z, c, s, lấy đúng từ bảng thanh mẫu của 《汉语拼音方案》 (Hànyǔ Pīnyīn Fāng'àn: Phương án Pinyin Hán ngữ) được phê chuẩn ngày 11/02/1958. 39 vận mẫu chia thành 10 vận mẫu đơn, 13 vận mẫu kép và 16 vận mẫu mũi. Nếu tài liệu bạn đang dùng ghi 36 vận mẫu thì cũng đúng, vì đó là cách đếm 35 ô trong bảng gốc cộng thêm vận mẫu er.
Vì sao có tài liệu ghi 36 vận mẫu, tài liệu khác ghi 39? Vì bảng vận mẫu in trong 《汉语拼音方案》 (Hànyǔ Pīnyīn Fāng'àn: Phương án Pinyin Hán ngữ) chỉ có 35 ô, còn bốn vận mẫu -i (trước), -i (sau), er và ê thì nằm ở phần ghi chú bên dưới bảng chứ không có ô riêng. Một cuốn sách cộng thêm mấy vận mẫu ghi chú đó thì ra con số ấy: 35 là số ô trong bảng, 36 là 35 cộng er và là cách đếm phổ biến nhất trong sách tiếng Việt, 37 là 36 cộng ê, 38 là 36 cộng hai âm -i, còn 39 là 35 cộng đủ cả bốn. Con số 24 trong sách tiểu học Trung Quốc là bản rút gọn dạy vỡ lòng. Tất cả các cách đếm này mô tả cùng một bộ âm, không cách nào sai.
Thanh mẫu và vận mẫu là gì? Thanh mẫu (声母 shēngmǔ) là phụ âm đứng ở đầu âm tiết, tương ứng với phụ âm đầu trong tiếng Việt. Vận mẫu (韵母 yùnmǔ) là toàn bộ phần còn lại sau khi bỏ thanh mẫu ra, tức phần vần. Trong 好 (hǎo): tốt thì h là thanh mẫu và ao là vận mẫu. Một âm tiết có thể không có thanh mẫu, gọi là âm tiết zero thanh mẫu như 二 (èr): hai, nhưng không bao giờ thiếu vận mẫu. Vận mẫu luôn chứa ít nhất một nguyên âm và kết thúc bằng nguyên âm hoặc bằng phụ âm mũi n hay ng.
Tiếng Trung có bao nhiêu thanh điệu? Tiếng Phổ thông có 4 thanh điệu cộng một thanh nhẹ. Theo phương pháp ghi cao độ năm bậc, thanh 1 (阴平 yīnpíng) có trị số 55, cao và bằng; thanh 2 (阳平 yángpíng) có trị số 35, đi lên; thanh 3 (上声 shǎngshēng) có trị số 214, xuống rồi vòng lên; thanh 4 (去声 qùshēng) có trị số 51, đổ dốc và là thanh ngắn nhất. Thanh nhẹ (轻声 qīngshēng) không phải thanh thứ năm mà là cách đọc lướt của một trong bốn thanh trên, không có trị số cố định và khi viết pinyin thì không đánh dấu. Bộ bốn kinh điển để luyện là 妈 (mā): mẹ, 麻 (má): cây gai, 马 (mǎ): con ngựa, 骂 (mà): mắng.
y và w có phải là thanh mẫu tiếng Trung không? Không. Theo 《汉语拼音方案》 (Hànyǔ Pīnyīn Fāng'àn: Phương án Pinyin Hán ngữ), y và w chỉ là ký hiệu chính tả dùng để viết những âm tiết vốn không có thanh mẫu, nhằm tách rõ ranh giới âm tiết khi viết liền nhau. Vận mẫu dãy i khi không có thanh mẫu đứng trước thì viết thành yi, ya, ye, yao, you, yan, yin, yang, ying, yong; dãy u viết thành wu, wa, wo, wai, wei, wan, wen, wang, weng; dãy ü viết thành yu, yue, yuan, yun. Một số sách tập đọc tiểu học Trung Quốc xếp y và w vào bảng thanh mẫu cho đủ 23 để trẻ dễ đánh vần, nhưng xét về ngữ âm thì con số chuẩn vẫn là 21 thanh mẫu.
Có bản PDF bảng 21 thanh mẫu và 36 vận mẫu không? Ngoại Ngữ Gia Sư không phát hành file PDF riêng cho bảng 21 thanh mẫu và 36 vận mẫu, và bài này cũng không có link tải. Bạn tự xuất ra bản PDF trong chưa tới một phút: bôi đen riêng bảng tra nhanh trong bài, nhấn Ctrl và P trên Windows hoặc Command và P trên máy Mac, trong hộp thoại in chọn mục in phần đã chọn (Selection only) nếu trình duyệt của bạn có, rồi chọn "Lưu thành PDF" (Save as PDF) để ra file hoặc chọn máy in để ra bản giấy. Bảng tra nhanh gom đủ 21 thanh mẫu, 39 vận mẫu chia theo ba nhóm và 4 thanh điệu, nên bản bạn tự xuất luôn là bản mới nhất.
📌 Bạn muốn học tiếng Trung?
Ngoại Ngữ Gia Sư, đồng hành cùng bạn chinh phục Hán ngữ!
Bài viết liên quan
- Lời chúc 20/11 tiếng Trung 2026: 28 câu chúc thầy cô có pinyin
- 11/11 tiếng Trung là 双十一 (shuāng shíyī): Ngày Độc thân 2026
- Nên học tiếng Trung giao tiếp hay HSK? Chọn theo mục tiêu 2026
- Anh yêu em tiếng Trung là 我爱你 (wǒ ài nǐ): cách nói và 70 câu
- Xin chào tiếng Trung là 你好 (nǐ hǎo): cách đọc và 50 câu chào hỏi